Thập Bát La Hán và Ý nghĩa đồ tượng 18 vị La Hán

Tổng Hợp

Thập bát La Hán là đề tài … không năm tháng, triết lý ấy đã gợi bao “Ý Tưởng” cho những nhà điêu khắc, họa sĩ. Để tạo nên rất nhiều tác phẩm suất sắc, độc đáo và bộ tượng Thập Bát La Hán dưới đây là một trong những bộ tượng được xem là sống động nhất hiện nay.

Thập Bát La Hán và Ý nghĩa đồ tượng 18 vị La Hán

THIẾU LÂM THẬP BÁT LA HÁN Eighteen Arhats of Shaolin Temple 2020

Bạn có thể hiểu hơn khi xem phim về Thập Bát La Hán, còn sau đây là những thông tin chi tiết về đồ tượng của 18 vị la hán được chúng tôi tổng hợp và chia sẻ lại. Mời bạn tham khảo!

1. La Hán Trường Mi (Ajita)

Tên của Ngài là Ajita. Theo truyền thuyết khi Ngài mới sanh ra đã có lông mày dài rủ xuống, điều báo hiệu kiếp trước Ngài là một nhà sư. Sau khi theo Phật xuất gia, Ngài phát triển thiền quán và chứng A-la-hán.

La Hán Trường Mi

2.Tọa Lộc La Hán (Pindolabhārad)

Ngài tên là Pindolabhāradvāja, xuất thân dòng Bà-la-môn, là một đại thần danh tiếng của vua Ưu Điền. Ngài thích xuất gia nên rời bỏ triều đình vào rừng núi nỗ lực tu tập, sau khi chứng Thánh quả cỡi hươu về triều khuyến hóa vua, nhân đó được tặng danh hiệu La-hán Cỡi Hươu.

Tọa Lộc La Hán

3.Tĩnh tọa La Hán (Nakula)

Tên của Ngài Nakula. Trên vách hang thứ 76 của động Đôn Hoàng có vẽ hình tượng Ngài ngồi kiết già trên phiến đá. Theo truyền thuyết, Ngài thuộc giai cấp Sát-đế-lợi sức mạnh vô song, đời sống chỉ biết có chiến tranh chém giết. Khi theo Phật xuất gia, Ngài đạt quả A-la-hán trong tư thế tĩnh tọa

Tĩnh tọa La Hán

4. Khoái Nhĩ La hán (Nāgasena)

Ngài tên là Nāgasena hay còn gọi là Na Tiên. Đương thời của Ngài gặp lúc vua Di-lan-đà cai trị, nhà vua là người Hy Lạp vốn chuộng biện thuyết. Nghe tiếng tôn giả Na Tiên là bậc bác học đa văn nên nhà vua đích thân phỏng vấn. Cuộc vấn đạo giữa bậc đế vương và bậc Tỳ-kheo thoát tục đã để lại cho chúng ta một tác phẩm bất hủ “Kinh Na Tiên Tỳ Kheo”. Nhờ sự chỉ dạy của tôn giả Na Tiên mà cuối cùng vua Di-lan-đà trở thành vị quốc vương anh minh hết lòng ủng hộ Phật pháp.

Khoái Nhĩ La hán

5.Thác Tháp La Hán (Subinda)

Tên của Ngài là Subinda. Tôn giả ít khi đi ra ngoài, Ngài chỉ ở yên nơi tinh xá đọc sách hoặc quét sân. Có người phê bình cách nói chuyện của Ngài không hay, đức Phật biết được an ủi: “Này Subinda! Nói chuyện hay hoặc dở không liên quan gì đến vấn đề giác ngộ. Mọi người chỉ cần y theo lời ta dạy mà thực hành, dù không nói câu nào cũng thành tựu sự giải thoát”.

Thác Tháp La Hán

Đúng thật là Tôn giả hiếm khi lãng phí thời gian vào việc tán gẫu, chỉ dành trọn thời gian tọa thiền nên chứng quả A-la-hán rất sớm.

6.Khai Tâm La Hán (Jivaka)

Hình tượng vạch áo bày ngực để hiển lộ tâm Phật. Ngài tên Jivaka. Nghe nói thân Phật cao một trượng sáu, Ngài không tin nên chặt một cây trúc dài đúng một trượng sáu để đích thân đo Phật. Lạ thay, dù đo bất cứ cách nào, thân Phật vẫn cao hơn một chút.

Khai Tâm La Hán

Sau khi Ngài chứng quả A-la-hán. Vì muốn kỷ niệm nhân duyên đo Phật mà xuất gia ngộ đạo, Ngài lấy cây sào lúc trước, đi đến chỗ cũ nói: Nếu Phật pháp là chân lý ngàn đời thì xin cây sào này mọc lại và sinh trưởng ở đây. Nói xong, Ngài cắm cây sào xuống đất. Cây sào bỗng nẩy chồi ra lá. Thời gian sau từ chỗ đó mọc lên một rừng trúc tốt tươi lan rộng cả vùng, người ta gọi nơi ấy là Trượng Lâm

7. Phục Hổ La Hán (Dharmatrāta)

Tên của Ngài là Dharmatrāta, người ở núi Hạ Lan tỉnh Cam Túc. Tôn giả ba lần thu phục một con hổ dữ đem nó về núi cho tu, đi đâu thì dẫn theo. Ngài thành danh La-hán Phục Hổ.

Phục Hổ La Hán

8. Khánh Hỷ La Hán (Kanakavatsa)

Ngài tên Kanakavatsa. Đức Phật thường khen Ngài là vị La-hán phân biệt thị phi rõ ràng nhất. Khi chưa xuất gia Ngài là người rất tuân thủ khuôn phép, giữ gìn từ lời nói đến hành động, một ý nghĩ xấu cũng không cho phát khởi. Sau khi xuất gia, Ngài càng nỗ lực tinh tấn tu tập, nhờ thiện căn sâu dày Ngài chứng quả A-la-hán rất mau.

Khánh Hỷ La Hán

9. Hàng Long La Hán (Nandimitra)

Ngài tên là Nandimitra, Ngài là vị Đại La-hán thần thông quảng đại, đạo hạnh trang nghiêm. Tương truyền có một lần cả đảo Sư Tử bị Long Vương dâng nước nhận chìm, Tôn giả ra tay hàng phục rồng nọ và được tặng hiệu La-hán Hàng Long.

Hàng Long La Hán

10. Bố Đại La Hán (Angada)

Tên của Ngài là Angada. Theo truyền thuyết trước khi theo Phật, Ngài hay bắt rắn bẻ hết những răng nanh độc rồi phóng thích lên núi. Người dân không còn bị rắn cắn chết nữa, nên Ngài được xem như biểu trưng của từ bi. Sau khi đắc đạo, Ngài thường mang một túi vải bên mình để đựng rắn.

Bố Đại La Hán

11. Quá giang La hán (Bhadra)

Tên của Ngài là Bhadra. Theo truyền thuyết, Tôn giả rất thích tắm rửa, mỗi ngày tắm từ một đến mười lần, và như vậy rất mất thời gian đồng thời trễ nải công việc. Thế Tôn kêu Tôn giả đến bên, chỉ dạy cách tắm rửa thiết thực, nghĩa là ngoài việc tẩy rửa thân thể còn phải tẩy rửa cấu uế trong tâm, gột sạch các tham sân phiền não để cả thân tâm đều thanh tịnh, Ngài từ đó mà đắc đạo.

Quá giang La hán

12. Tiếu sư La hán (Vajraputra)

Tên của Ngài là Vajraputra. Tương truyền khi còn ở thế tục, Ngài làm nghề thợ săn, thể lực rất tráng kiện, một tay có thể nâng một con voi, hoặc nắm một con sư tử ném xa hơn 10 mét. Mỗi khi muông thú chạm mặt Ngài, chúng đều hoảng sợ lánh xa. Sau khi xuất gia, Ngài nỗ lực tu tập, chứng quả La-hán. Lại có một con sư tử thường quấn quýt bên Ngài, do đó Ngài được biệt hiệu La-hán Đùa Sư Tử.

Tiếu sư La hán

13. Ba Tiêu La Hán (Vanavāsin)

Tên của Ngài là Vanavāsin. Sau khi xuất gia với Phật, Ngài thích tu tập trong núi rừng, thường thiền định dưới các cây chuối nên còn được gọi là La-hán Ba Tiêu.
Ba Tiêu La Hán

14. Thám Thủ La Hán (Panthaka)

Hình tượng đưa hai tay lên rất sảng khoái của một vị La-hán sau cơn thiền định. Ngài tên là Panthaka. Ngài là anh của La Hán Kháng Môn – Cullapatka.
Thám Thủ La Hán

15. Trầm Tư La hán (Rāhula)

Ngài chính là Rāhula. Sau khi theo Phật xuất gia, nhờ sự giáo dưỡng của Thế Tôn, Ngài bỏ dần tập khí vương giả và thói xấu trêu ghẹo người, nỗ lực tu tập để chứng Thánh quả .Sau khi chứng quả A-la-hán, Ngài vẫn lặng lẽ tu tập. Đức Phật khen tặng Ngài là Mật hạnh đệ nhất. Với đức tánh lặng lẽ, Ngài được tặng danh hiệu La-hán Trầm Tư.
Trầm Tư La hán

16. Kháng Môn la hán (Cullapatka)

Tên của Ngài là Cullapatka. Truyền thuyết Phật giáo nhắc đến Ngài như một tấm gương cần cù nhẫn nại. Được sự chỉ dạy lân mẫn của Thế Tôn, Ngài thực hành pháp môn quét rác. Nhờ sự kiên trì, dốc tâm thực hành lời dạy của Phật, quét sạch mọi cấu uế bên trong lẫn bên ngoài, Ngài đã chứng Thánh quả.
Kháng Môn la hán

17. Kỵ Tượng la hán (Kalica)

Tên của Ngài là Kalica, trước khi xuất gia làm nghề huấn luyện voi. Khi Tôn giả chứng quả A-la-hán, đức Phật bảo Ngài nên ở tại quê hương mình (Tích Lan) để ủng hộ Phật pháp.

Kỵ Tượng la hán

18. Cử Bát La hán (Kanakabharadvāja)

Tên của Ngài là Kanakabharadvāja. Có vị Vua nước Tăng-già-la ở Nam Hải không tin Phật pháp. Một sớm mai, khi đang cầm gương soi mặt, quốc vương giật mình kinh sợ vì trong gương không có mặt mình mà có hình dáng vị đại sĩ Bạch Y. Đây là do phép thần biến của Tôn giả Kanakabharadvāja. từ đó Vua hết lòng tin Phật.
Cử Bát La hán
Trên đây là ý nghĩa của đồ tượng Thập Bát La Hán mà bạn có thể tìm hiểu được trên internet. Top10city.com xin được tổng hợp và chia sẻ lại dành cho những ai đang muốn tìm hiểu về chủ đề này.
Theo Du Lịch Tâm Linh.net
Bài viết liên quan